Haprofood - Luôn tươi ngon
Tên truy cập
Mật khẩu
 
 
Giò truyền thống
Bánh bao Ngon
Rau củ quả đóng hộp
Nước mắm, nước chấm
Thực phẩm đông lạnh
Thực phẩm tươi sống
Dịch vụ gói quà tặng
Các sản phẩm công ty phân phối
Danh mục website
Tỷ giá ngoại tệ
Dự báo thời tiết
Giá vàng
Chương trình TV
Chứng khoán
Tra cứu danh bạ điện thoại
KIẾN THỨC CHUYÊN MÔN
Định hướng phát triển phân phối và bán lẻ cho các nhà sản xuất VN
Cập nhật ngày : 09/11/2008

"...có 80% các hộ gia đình ở thành thị đã mua sắm ở các trung tâm thuộc kênh MT trong vòng 12 tháng qua, tuy nhiên chỉ 10% sẽ chọn siêu thị là nơi mua sắm chính. Trung bình, mỗi hộ gia đình tốn 550 đô la Mỹ/năm để mua các sản phẩm đóng gói, nhưng chỉ dùng có 80 đô la Mỹ (gần 15%) để mua sắm tại kênh MT...". Năm 2009, thị trường bán lẻ VN mở cửa cho phía nước ngoài tham gia 100%. Điều đó sẽ gây ảnh hưởng nhiều đến các nhà phân phối nội địa. Tuy nhiên, cũng sẽ có một thành phần ảnh hưởng không nhỏ. Đó là các nhà sản xuất nội địa và cả nước ngoài.

BỐI CẢNH:  Theo lộ trình mà Việt Nam cam kết khi gia nhập WTO, từ ngày 1/1/2009, chúng ta sẽ phải mở cửa cho phép phía nước ngoài thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong ngành hàng cung cấp dịch vụ phân phối. Bốn loại hình phân phối mà WTO phân loại thì chúng ta đều phải mở, đó là bán lẻ, bán buôn, đại lý hoa hồng và nhượng quyền thương mại.Thật ra thì bắt đầu từ ngày 1/1/2008, VN phải mở cửa để phía nước ngoài được liên doanh góp vốn đầu tư với số vốn không hạn chế. Tuy vậy, may mắn là “cơn bão giá” đã ngăn trở các nhà đầu tư rất nhiều.Nhà cung cấp dịch vụ phân phối nước ngoài đầu tiên bước chân vào thị trường VN là Cora (sau đó bán cho thương hiệu Big C của tập đoàn Casino Pháp) với trung tâm phân phối tại Đồng Nai năm 1998. Đến nay, Big C đã có 7 trung tâm tại 4 thành phố lớn của VN. Tiếp bước là Metro với mô hình Cash & Carry (khách hàng trả bằng tiền mặt và tự vận chuyển) nổi tiếng. Ngày 28/2/2002, Metro Bình Phú tại TPHCM khai trương. Đến hôm nay, Metro đã có đến 8 trung tâm tại 5 thành phố lớn của VN. Parkson của tập đoàn Lion của Singapore cũng gia nhập vào năm 2004 với ParksonSaigonTouristPlaza ở TPHCM và thêm 2 trung tâm nữa ở Hải Phòng và Hùng Vương Plaza (TPHCM). Ngoài ra, có Zen Plaza của Nhật Bản và Diamond Plaza của Hàn Quốc cũng tham gia vào thị trường bán lẻ cao cấp tại TPHCM.Trong nhiều năm đó, những nhà sản xuất Việt Nam hầu như chịu lép vế khi ngồi trên bàn đàm phán với các nhà phân phối nước ngoài này, đặc biệt là với Metro. Với tôn chỉ hoạt động là “chỉ phân phối đến các doanh nghiệp và khách hàng mua bán chuyên nghiệp, những chi nhánh khác kinh doanh bán lẻ cho người tiêu dùng”, đối tượng khách hàng của Metro là các cửa hàng bán lẻ. Để tạo được lợi thế cạnh tranh về giá và khuyến mãi với các nhà phân phối nội địa, Metro đã buộc các nhà sản xuất phải có mức chiết khấu cao (từ 8% đến hơn 20%) cho họ. Nếu không thì không cho hàng vào.Metro có được lợi thế trên bàn đàm phán là vì họ là nhà kinh doanh bán lẻ lớn thứ tư thế giới với hơn 600 trung tâm ở 29 quốc gia. Những nhà sản xuất VN, đặc biệt là có vốn nước ngoài, nếu không làm theo điều kiện của Metro thì Metro sẽ gây áp lực với công ty mẹ ở nước ngoài. Đối với các nhà sản xuất nhỏ lẻ thì Metro buộc phải dán nhãn của Metro nếu muốn hàng vào trung tâm phân phối của họ.  

HAI GIAI ĐOẠN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ SẢN XUẤT NƯỚC NGOÀI: Thật ra, trong 10 năm các nhà phân phối nước ngoài tham gia thị trường VN, các nhà sản xuất không thiệt hại, mà còn phát triển. Kể từ khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ (1994), các nhà sản xuất nước ngoài vào VN với một kinh nghiệm thị trường non trẻ. Từ năm 1994 đến năm 2000, các nhà sản xuất nước ngoài giống như một nàng dâu mới về nhà chồng. Có hai vấn đề mà nàng dâu này phải giải quyết, một là làm sao phải dọn ra ở riêng để thoát khỏi mẹ chồng khó tính (nghĩa là dứt được tình trạng liên doanh với doanh nghiệp nhà nước) và hai là làm sao để nhà chồng làm theo cách của mình hay là ít nhất phải phù hợp được với văn hóa nhà chồng (nghĩa là cách quản lý bán hàng tiểu thương của 200.000 cửa hàng bán lẻ làm cho tình hình kinh doanh của họ phát triển không như mong muốn).Về vấn đề thứ nhất, thỉnh thoảng chúng ta thấy một công ty liên doanh thông báo lỗ phía doanh nghiệp nhà nước rút lui để phía nước ngoài biến công ty trở thành công ty 100% vốn nước ngoài. Lúc đó, công ty mới có lãi và đi vào hoạt động thực sự. Đó là cách xoay xở nhanh nhất để một nhà sản xuất nước ngoài thoát khỏi cách làm ăn ì ạch của phía doanh nghiệp nhà nước. Đến năm 2000, hàng loạt nhà sản xuất 100% vốn nước ngoài bắt đầu công bố có lãi và phát triển.

Còn vấn đề thứ hai, hầu như thị trường lúc đó chỉ xoay quanh chợ, chợ và chợ. Chợ giống như một trung tâm bán lẻ cho dân thành thị và bán sỉ với việc chuyên đánh hàng cho khu vực vùng sâu vùng xa. Sau đó là một trào lưu mở cửa hàng bán lẻ mà cho đến ngày nay VN đã có khoảng 200.000 cửa hàng bán lẻ ở khắp nơi trên toàn quốc. Sau hàng chục năm, phong cách bán hàng tiểu thương hầu như đã ăn sâu vào máu của 200.000 người kinh doanh này. Việc thay đổi phong cách này qua nhiều giai đoạn, đầu tiên là nhà sản xuất huấn luyện cho nhà phân phối nội địa và nhà phân phối huấn luyện lại cho cửa hàng. Nhưng việc thay đổi quá chậm chạp, do nhà phân phối nội địa, người huấn luyện cửa hàng, lại cũng có…. Phong cách tiểu thương. May thay, việc xuất hiện của các nhà phân phối nước ngoài, làm cho tự bản thân nó là một đối tượng cho sự phát triển về phong cách quản lý bán hàng của đầu tiên là các nhà phân phối nội địa, và sau đó là các cửa hàng bán lẻ. Sự tham gia của nhà phân phối nước ngoài cũng làm cho miếng bánh lớn hơn đối với nhà sản xuất.

NGUY CƠ VÀ CƠ HỘI CỦA GIAI ĐOẠN THỨ BA: Tình hình phân phối năm 2009 có thể sẽ giống như tình hình ở Trung Quốc với hàng loạt nhà phân phối nội địa sẽ phá sản khi Wal-Mart (Mỹ), Carrefour (Pháp), Tsco (Anh), Dairy Farm (Hong Kong), South Asia Investment (Singapore), Circle K (Canada) hoặc ngay cả nhà phân phối trên mạng Amazon.com (Mỹ) tràn vào thị trường. Lúc đó, hàng nhập khẩu sẽ tràn lan ở thị trường và kết quả logic là miếng bánh của nhà sản xuất VN sẽ nhỏ lại. Bên cạnh đó, các nhà phân phối nước ngoài lớn cũng sẽ gây áp lực mạnh hơn đối với các nhà sản xuất trong nước làm cho mức lợi nhuận sau thuế thu về sẽ phải giảm đáng kể.

Mức độ mở rộng thị trườngTừ 11-1-2007, DN có vốn ĐTNN chưa được phép phân phối những mặt hàng: xi măng, clinke, lốp (trừ lốp máy bay), giấy, máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con, xe máy, sắt thép, thiết bị nghe nhìn, rượu, phân bón.Từ 1-1-2009, các DN có vốn ĐTNN được phép phân phối máy kéo, phương tiện cơ giới, ô tô con, xe máy.Từ 1-1-2010, các DN có vốn ĐTNN được phép cung cấp dịch vụ bán buôn, bán lẻ tất cảa các mặt hàng sản xuất tại Việt Nam và NK hợp pháp vào Việt Nam.

Tuy vậy, VN mới chỉ trong giai đoạn đang phát triển, thị trường bán lẻ vẫn sẽ chia làm hai phân khúc rõ ràng trong nhiều năm nữa, như những công ty lớn như Unilever, P&G, Dutch Lady… đang phân là GT (general trade: thị trường truyền thông) và MT (modern trade: thị trường hiện đại).Theo số liệu được đăng trên tờ Doanh nghiệp và Thương hiệu, có 80% các hộ gia đình ở thành thị đã mua sắm ở các trung tâm thuộc kênh MT trong vòng 12 tháng qua, tuy nhiên chỉ 10% sẽ chọn siêu thị là nơi mua sắm chính. Trung bình, mỗi hộ gia đình tốn 550 đô la Mỹ/năm để mua các sản phẩm đóng gói, nhưng chỉ dùng có 80 đô la Mỹ (gần 15%) để mua sắm tại kênh MT.Để lý giải tại sao chỉ 15% hoạt động mua hàng của người Việt ở kênh MT, chúng ta sẽ xét đến văn hóa tiêu dùng. Đó là văn hóa tiết kiệm, người VN có thể chạy xe xa hơn một chút để đến chợ hay cửa hàng quen để mua một món hàng giá rẻ hơn trong siêu thị và lại không có chuyện giữ xe phiền phức. Họ cũng có thể mua hàng tại một chợ hoặc cửa hàng gần nhà với giá tương đương siêu thị để thỏa sức buôn dưa lê với chị chủ cửa hàng. Do vậy, sẽ khó lòng thay đổi được văn hóa tiêu dùng của người VN.Ngay cả phải kể đến là các trung tâm phân phối kênh MT cũng có những vấn đề của họ về đất đai và xây dựng. Họ phải tìm đất phù hợp để xây dựng trong khi ở trong nội ô, một tấc đất là một tấc vàng. Nếu họ thuê mặt bằng thì gặp phải giá thuê vào loại một trong những nơi đắt đỏ nhất thế giới: từ 40 – 200 đô la Mỹ/m2/tháng, trong khi nguồn cung mặt bằng cho thuê thì đến năm 2011 chúng ta cũng chỉ có khoảng 350.000 m2 mặt bằng tại TPHCM và 380.000 m2 tại Hà Nội. Nếu họ xây dựng cũng mất thời gian, nhanh như Metro làm trung tâm phân phối bằng nhà thép tiền chế thì cũng mất hơn 3 tháng.Như vậy, cũng phải nhiều năm nữa, các trung tâm mua sắm hiện đại mới thoát được “cái bóng” của 200.000 cửa hàng bán lẻ và hàng trăm ngàn sạp chợ trong 9.000 chợ trên toàn quốc.

CÁC NHÀ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG GIAI ĐOẠN THỨ BA: Quá trình kinh doanh của một nhà sản xuất bắt đầu từ khi họ mua nguyên liệu từ nhà cung cấp và kết thúc khi sản phẩm đã đến tay khách hàng, chưa nói đến giai đoạn hậu mãi. Chất lượng hóa chi phí và tăng số lượng bán hàng chắc hẳn là câu châm ngôn của nhà kinh doanh từ bao đời nay sẽ phải quán triệt trong giai đoạn mới.Để tăng chất lượng phân phối, các nhà sản xuất phải nghiên cứu xem hành vi của người mua hàng sản phẩm mình là gì để lựa chọn trọng tâm phân phối của mình. Làm được điều này, nhà sản xuất sẽ có thể đầu tư trọng tâm vào nhà phân phối nào, tránh bị o ép, hoặc không hiệu quả. Ví dụ như, khi mua các mặt hàng tạp hóa và các sản phẩm sữa, thì chợ hoặc cửa hiệu ven đường được ưa thích hơn. Khi mua các mặt hàng tạp hóa và các sản phẩm chăm sóc cá nhân hoặc các sản phẩm cho gia đình, họ chọn kênh siêu thị.Số liệu doanh số bán ra tại tất cả các kênh và siêu thị (Nguồn: TNS Worldpanel)

- Tất cả các kênh: sản phẩm chăm sóc cá nhân: 19%sản phẩm dùng cho gia đình, 9%đồ uống,  2%sản phẩm từ sữa, 29%hàng tạp hóa, 21% 

- Kênh siêu thị: sản phẩm chăm sóc cá nhân 29%sản phẩm dùng cho gia đình,   21%đồ uống, 9%sản phẩm từ sữa,  9%hàng tạp hóa, 22% 

Trong giai đoạn 1 và 2, các nhà sản xuất chỉ mới tập trung vào nâng cấp quản lý cho các nhà phân phối nội địa, họ luôn xem các nhà phân phối nội địa là “một cánh tay nối dài”, hoặc “kho hàng” của mình. Đến giai đoạn thứ ba này, các nhà sản xuất nên vươn cánh tay ra đến cửa hàng, hoặc thậm chí người tiêu dùng. Ngoài ra, là phân nhóm thị trường cho việc đầu tư trọng điểm.  Tăng chất lượng phân phối ở kênh truyền thông (GT) Một số công ty bắt đầu phân nhóm thị trường không đơn thuần là phân ra 7 khu vực bán hàng (Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc miền Trung, Nam miền Trung, miền Đông, TPHCM và ĐBSCL), mà phân ra từng cấp độ ưu tiên đầu tư. Ví dụ, ở Unilever, công ty phân các thành phố lớn vào 1 nhóm, nhóm GT2 (bao gồm TPHCM và Hà Nội), GT4 (bao gồm GT 2 và Đà Nẵng, Cần Thơ), GT8 (bao gồm GT4 và Hải Phòng, Vinh, Nha Trang, Biên Hòa), cứ thế mà phân ra tiếp tục cho đến GT38. Như vậy, họ sẽ đầu tư có trọng điểm để phát triển được tốt, nhờ đó mà có hiệu ứng vết dầu loang cho các thị trường lân cận.Hay như một công ty chia kênh GT của họ ra làm 4 kênh khác nhau dựa vào nhu cầu mua hàng của người mua: nhu cầu mua về dự trữ (shop lớn), nhu cầu mua nhỏ, cấp thiết khi hết hàng trong nhà gần nhà (tiệm), nhu cầu mua hàng nội trợ ở chợ (sạp) và nhu cầu mua hàng dùng tại chỗ (quán).Do vậy, các nhà sản xuất cũng nên phân nhóm theo nhiều nhóm hoặc tổng hợp (xem bảng), mỗi một nhóm nên đặt mã số: 

Chia theo khu vực địa lý

Chia theo đơn vị hành chính trọng điểm

Chia theo loại cửa hàng

Chia theo doanh số

SKU

Đông Bắc Bộ

Thành thị

Shop lớn

> 100 triệu/tháng

SKU A

Tây Bắc Bộ

TPHCM

Shop nhỏ

> 50 triệu/tháng

SKU B

Bắc Trung Bộ

Hà Nội

Sạp chợ

> 20 triệu/tháng

 

Nam Trung Bộ

Đà Nẵng

Quán

 

Miền Đông

Cần Thơ

 

 

 

TPHCM

 

 

 

 

ĐBSCL

Cận thành thị

 

 

 

 

Thủ Đức

 

 

 

 

Hóc Môn

 

 

 

 

Cầu Giấy

 

 

 

 

Long Biên

 

 

 

 

Hòa Vang

 

 

 

 

 

 

 

 

Nông thôn

 

 

 

 

Các thị trấn lớn

 

 

 

 

Các thị trấn nhỏ

 

 

 

 

Vùng sâu, xa

 

 

 

 

 

 

 

 

Như vậy, sẽ có rất nhiều nhánh tổng hợp. Ví dụ: Đông Bắc bộ + Hà Nội + Shop lớn + > 100 triệu… Nhà sản xuất xem nhánh nào mạnh để phát huy và khắc phục nhánh yếu để mình đầu tư có hiệu quả.

 Vươn cánh tay nối dài đến cửa hàng:  Để có thể phát triển bền vững ở kênh truyền thống, các nhà sản xuất buộc phải vươn cánh tay nối dài của mình đến các cửa hàng. Hiểu theo một nghĩa là phải biến cửa hàng, nhất là các cửa hàng lớn, trở thành sân chơi của riêng mình, và mình có quyền áp đặt luật chơi ở cửa hàng đó. Bằng cách đầu tư vào các cửa hàng có doanh số lớn và chịu hợp tác với mình, các nhà sản xuất bắt đầu có được một chân để quản lý kinh doanh của cửa hàng theo hướng phát triển của mình. Qua đó, các cửa hàng nhỏ trong khu vực cũng học tập theo.Đầu tiên là hỗ trợ nhân viên bán hàng và giới thiệu sản phẩm (promotor) đứng tại cửa hàng. Không như những năm trước đây, promotor là người của công ty đứng để giới thiệu sản phẩm, marketing là chính, các nhà sản xuất nên nâng cấp promotor lên thành đại diện bán hàng (AR – account representative) của công ty tại cửa hàng. Cô nhân viên này chăm lo mọi thứ về kinh doanh sản phẩm công ty tại cửa hàng, từ việc giúp cửa hàng đặt hàng từ nhà phân phối, quản lý tồn kho, bán hàng, trưng bày tại cửa hàng… Nếu làm được như vậy thì các nhà sản xuất có thể kiểm soát được hoạt động kinh doanh của mình tại cửa hàng.Tuy nhiên, như vậy là chưa đủ để có thể áp đặt được cửa hàng về phía mình. Để làm được điều này, các nhà sản xuất nên đầu tư vào cửa hàng bao gồm trang bị bảng hiệu, quầy kệ, các POS (point of sale) bao gồm phần mềm quản lý, máy đọc mã vạch, máy in hóa đơn…. Tất nhiên, tất cả đều phải theo định dạng (format) nhất quán của nhà sản xuất.Ngoài ra, việc hỗ trợ nâng cao kỹ năng mềm như là giao tiếp bán hàng như thế nào, kiểm tồn kho như thế nào, đặt hàng như thế nào cho hiệu quả, đến việc trưng bày và giới thiệu sản phẩm…. cũng phải đặt ra là một trong những hỗ trợ hàng đầu cho cửa hàng.Có câu hỏi đặt ra là làm sao mình có thể đầu tư cho toàn bộ cửa hàng lớn được như vậy khi ngân sách không đủ làm. Chúng ta có thể đầu tư theo hình phễu, số nhiều cửa hàng được đầu tư con người (chi phí này là hiệu quả nhất), kế đến là một số cửa hàng được đầu tư tiền mua sự ưu tiên của cửa hàng (ví dụ như chỗ trưng bày tốt nhất, hay là quyền ưu tiên mời hàng đầu tiên…), một số ít được đầu tư trang bị quầy kệ, POS… Có ngân sách nữa thì đầu tư kỹ năng mềm cho cửa hàng, nên là cửa hàng nào có nhân viên AR thì được huấn luyện.Nếu nhà sản xuất có tham vọng vươn cánh tay ra đến người tiêu dùng nữa thì chính lực lượng AR này sẽ thực hiện việc đó. Tại cửa hàng, lực lượng này sẽ giúp công ty thu nhập danh sách khách hàng sử dụng sản phẩm bao gồm khách hàng lớn với doanh số mua thường xuyên lớn, khách hàng nhỏ, khách hàng tiềm năng… Lúc đó thì bộ phận chăm sóc khách hàng của công ty sẽ chăm sóc khách hàng càng chuyên nghiệp và chu đáo càng tốt.

Quản lý bán lẻ toàn diện Do các cửa hàng lớn đã có các nhân viên đại diện bán hàng chăm sóc, nên nhiệm vụ của các nhân viên bán hàng là đi mở rộng độ phủ đến các cửa hàng nhỏ lẻ chưa từng được bán hàng trực tiếp. Theo số liệu từ một hãng nghiên cứu thị trường nước ngoài thì một các nhà phân phối của một nhà sản xuất giỏi lắm thì cũng chỉ phủ được khoảng 70% số cửa hàng trên tổng số 200.000 cửa hàng bán lẻ trên toàn quốc. 30% còn lại là một con số tiềm năng rất lớn cho các nhà phân phối nội địa khai thác và phát triển doanh số, cũng như giúp sản phẩm của nhà sản xuất đến gần hơn với người mua hàng.Có nhiều nhà sản xuất lớn đã hỗ trợ máy Palm cho nhân viên bán hàng của mình quản lý bán hàng được tốt hơn. Nhân viên bán hàng cầm máy Palm đến cửa hàng, ghi đơn hàng, làm báo cáo ngay tại cửa hàng… và dữ liệu ngay lập tức được truyền về máy chủ đặt tại nhà phân phối qua đường dây điện thoại của cửa hàng (sau này nếu công nghệ CDMA phát triển thì càng thuận tiện hơn để truyền dữ liệu). Lúc đó thì nhà phân phối nhận được đơn hàng sẽ vận chuyển hàng đến cho cửa hàng. Rất nhanh chóng và tin học hóa quản lý bán hàng rất chính xác, cũng như giảm bớt chi phí vận chuyển và nhân sự. 

Phát triển kinh doanh tại kênh phân phối hiện đại (MT) Một điều chắc chắn là sau năm 2009, hàng loạt nhà cung cấp dịch vụ phân phối hiện đại từ nước ngoài cũng như trong nước tham gia cuộc chơi. Các nhà cung cấp dịch vụ phân phối nội địa có ưu thế là hiểu được văn hóa tiêu dùng của người VN hơn nhưng chỉ một số ít thành công. Thương hiệu Coopmart đã ăn sâu vào tiềm thức của người mua hàng TPHCM. Trung Nguyên thì đi theo hướng chuỗi cửa hàng tiện lợi G7 Mart từ năm 2006 nhưng thất bại. Các dự án đang nằm trên giấy như V-Mart của Vinamilk. Bộ tứ Saigon Coopmart, Hapro, Satra, và Phú Thái cũng lập ra công ty VDA mưu tìm sự phát triển hệ thống phân phối nội địa thì chưa thấy đâu.Với tiềm lực tài chánh hùng mạnh, kiến thức quản lý chuyên nghiệp…sẽ giúp cho các nhà cung cấp dịch vụ phân phối nước ngoài thắng áp đảo ở phân khúc cao cấp. Tuy nhiên, các nhà phân phối nội địa sẽ lui về phòng thủ ở khu vực gần dân cư, với các cửa hàng tiện lợi như mỗi chung cư một siêu thị hay mỗi cao ốc văn phòng một siêu thị hay mỗi tổ dân phố một siêu thị…

Các nhà sản xuất phải tính xem trong hai phân khúc như vậy thì mình nên đầu tư như thế nào. Nếu đó là những mặt hàng đánh vào khách hàng mục tiêu là giới trẻ trung lưu, và khu vực bán sỉ thì nên đi vào các trung tâm thương mại lớn (lúc đó do phía nước ngoài nắm giữ). Nếu là mặt hàng tươi sống hay dùng hằng ngày tại nhà… thì đầu tư vào khu vực gần dân cư lúc đó có thể do các nhà phân phối trong nước nắm giữ.

(Theo TBKTSG)

Các bài đã đăng:
  Thuật quản lý: Kiểu con cua tốt hơn kiểu đầu tàu
  Những nhầm lẫn không đáng có về marketing
  Vào WTO: xong chúng ta sẽ làm gì?
  “Made in” hay “made by”?
  Tái định vị
  Hiểu thế nào về thương hiệu quốc gia
  Danh tiếng công ty, một tài sản vô giá
  Tái cấu trúc doanh nghiệp NN - Bài học từ Trung Quốc
  Văn hóa doanh nghiệp - cách tiếp cận hiện đại
   5 lỗi chết người của doanh nghiệp bán hàng lẻ nhỏ
  Hành vi tiêu dùng bị bỏ quên
  Quảng cáo ở Euro 2008 đã được nghệ thuật hóa thế nào?
  Brand identity: những lưu ý khi xây dựng hoặc thay đổi hệ thống nhận diện
  Bạn đã định giá sản phẩm của mình đủ cao chưa?
  BCG Triết lý con bò sữa và Chiến lược tập đoàn
  Tạo một thương hiệu gây xúc cảm
  Lỗi thường gặp trong tuyển dụng nhân sự
  Tố chất lãnh đạo do bẩm sinh hay được tôi luyện?
  Quản trị kênh phân phối – Hãy coi đối tác là khách hàng
  10 điều khát khao của khách hàng

Mức độ sãn sàng mua hàng qua mạng điện tử của bạn hiện nay như thế nào?




 
     Số lượt truy cập: 10569281
     Đang trực tuyến: 8
Trang chủ  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ website  |  Liên hệ
Bản quyền thuộc về Công ty TNHH nhà nước một thành viên Thực Phẩm Hà Nội -  Thiết kế bởi Hoang Ky.,JSC